Nghệ thuật chiếu sáng

Quá trình tri giác và thụ cảm thị giác phần 2

         Sự thụ cảm về môi trường được chiếu sáng luôn luôn bao gồm nhiều dạng cảm xúc và ấn tượng vừa phong phú vừa trái ngược. Để nói bằng lời, người ta thường biểu hiện chúng thành từng cặp đối ứng định tính:

          Tất nhiên, những nhận định như thế là thiên về đánh giá định tính hơn định lượng, nặng về khía cạnh tâm – sinh lý thụ cảm thị giác.
Chẳng hạn ta nói môi trường chiếu sáng quá chói, bất tiện không thích ứng, mà không nêu là độ sáng giới hạn ở hai cực của nó nằm trong quan hệ tỉ lệ từ 1 đến 30 hoặc cũng không nói là độ sáng trung bình của nó, khoảng 700cd/m2.
       Sự đánh giá một môi trường chiếu sáng tùy thuộc cách mà chúng ta mong muốn. Ta không cho rằng một căn phòng “sáng” hay “tối” theo giá trị thực của độ sáng (Luminance) mà chỉ để trả lời câu hỏi có đáp ứng hay không, rằng môi trường chiếu sáng này có thỏa mãn nhu cầu về các mặt thụ cảm thông tin thị giác hay không. Ý niệm cốt tử đê đánh giá chính là ở hiệu quả thụ cảm và sự thích ứng.
        Trong một không gian kiến trúc, các thành tố quan trọng nhất, sáng nhất, có màu sắc rõ nhất cũng chính là những vật mà người ta muốn thu hút được sự chú ý, thì chúng đương nhiên tạo ra khả năng bắt mắt, hút hồn, tập trung sự nhìn vào đó một cách tích cực, chủ động, đáp ứng sự mong muốn và làm hài lòng người sử dụng. Ngược lại, nếu các thành tố này không có ý đồ kéo sự chú ý của khán giả, thì chúng quả là bất tiện, trở thành các chướng ngại vô ích cho khả nãng thụ cảm thẩm mỹ. Ở đây ánh sáng cần giúp các kiến trúc sư, các designer làm mờ hoặc xóa bỏ các ấn tượng đó để hướng sự chú ý của mọi người vào những nơi quý giá.
        Nghiên cứu những dạng kiểu cảm xúc thị giác với hiệu quả ánh sáng người ta quan tâm nhiều đến các ấn tượng sau đây:
– Rực rỡ, sống động và hấp dẫn thường ỉà khát vọng thụ cảm khi ngắm nhìn, đắm mình vào không gian chiếu sáng. Một thành tố của trường nhìn có độ sáng cao có vẻ rực sáng và lung linh hấp dẫn hơn, đó là trường hợp của một chùm đèn, hay mạt trời hoàng hôn…, nhưng nó sẽ chói lóa nếu cường độ sáng quá lớn, vượt khỏi mong muốn thích ứng với thụ cảm nhìn. Giới hạn độ sáng này theo Hobkinson trung bình không nên vượt quá 500cd/m2 đối với các phòng lớn, cũng cần nói thêm kết luận này không phù hợp với kinh nghiệm thường ngày của chúng ta. Mắt ta đã quen với độ sáng lớn hơn nhiều lần.
Mặt khác cũng cần nói mắt ta khó thích ứng ngay được khi thoạt nhìn từ tối ra sáng hay ngược lại (ngắm cảnh đường phố qua cửa sổ, ban ngày nắng gắt từ ngoài phố bước vào phòng chiếu phim).
– Ân tượng buồn chán thị giác, thường là kết quả của sự thiếu vắng trong môi trường chiếu sáng chất lượng mong muốn nào đó mà khán giả đang chờ đợi, hy vọng có thể tìm thấy ở đó. Chẳng hạn, không gian quá tối, thiếu thông tin, mắt có khả năng thâu nhận, cảm thụ, thiếu các điểm nhấn thị giác cần thiết để kích thích sự chú ý, khả năng tìm hiểu chọn lựa đối tượng quan sát không mạnh mẽ.
        Môi trường ánh sáng buồn tẻ có thể còn do giải pháp chiếu sáng chưa thích ứng công năng, phản vệ sinh hay phản thẩm mỹ, dùng ánh sáng, màu chưa thích ứng với đối tượng, trường nhìn bị chói lóa, bị nhiễu tạo ra nhận thức sai lệch về đồng hồ sinh học của khán giả. Cảnh sắc ngoài trời mùa đông, ngày mưa thường gây ấn tượng buồn chán, nặng nề do vật thể không đủ tương phản sáng tối, người quan sát không phân biệt rõ các chi tiết kiến trúc, các sắc độ màu… nhưng sẽ vô cùng rực rỡ, sống động trong những ngày nắng, bầu trời trong xanh (cho dù độ sáng vào những ngày ảm đạm của bầu trời phủ mây có thể đến 50.000 lux).
Hoặc về đêm cảnh sắc có vẻ trong trẻo, sáng láng hơn, lung linh hấp dẫn hơn ban ngày, vì người ta đã biết dùng ánh sáng để nhấn mạnh các hiệu quả nghệ thuật, những nét đặc thù hấp dẫn của đối tượng (mà ánh sáng tràn đầy tự nhiên và bị động ban ngày thường không thể thực hiện được).
– Ấn tượng có tổ chức, bố cục rõ ràng, hay lộn xộn, tùy tiện, sự tham lam có hại là mối quan tâm đặc biệt cần thiết khi tìm giải pháp chiếu sáng cho các không gian lớn, nơi tập trung đông người sử dụng. Người sáng tác có thể dùng cách chọn nguồn sáng, bố trí hệ thống đèn để tạo nên các không gian ánh sáng vốn có nhiều chi tiết, thành phần thành một không gian^nội thất có tổ chức hơn, tĩnh định và hài hòa thống nhất hơn.
– Cảm giác về an toàn và thiếu an toàn tạo tâm lý chủ động và an toàn thoải mái.
– Cảm giác về thân thiết, gần gũi ím cúng hay hoành tráng, nghiêm trang tạo cảm xúc mạnh, ấn tượng.
Để đánh giá chất lượng thụ cảm nhìn, ta có thể căn cứ trên một số khía cạnh sau đây để phân tích:
– Kinh nghiệm riêng, sự nhạy cảm, định hướng sự chú ý trong trường nhìn của người quan sát.
– Đặc điểm của đối tượng, vật thể cần quan sát và thụ cảm (hình thức, kích cỡ, màu sắc, chất liệu, mối quan hệ nền, vật…).
– Đặc điểm môi trường bối cảnh.
– Tính đáp ứng thị giác của người quan sát về mặt công năng và tâm lý – sinh học.
– Đặc điểm giải pháp chiếu sáng đáp ứng nhu cầu thụ cảm nhìn.
– Sự hiện diện hay thiếu vắng các trung tâm thu hút thị giác, các điểm nhấn chiếu sáng của môi trường nhìn.
Việc phân tích cũng cần tham khảo các yêu cầu tâm – sinh học trong thiết kế chiếu sáng mà xác định giá trị của giải pháp.
Về khía cạnh tạo sự tập trung chú ý và kinh nghiệm cần thiết của người thiết kế cùng với hiệu quả yếu tố tín hiệu ánh sáng có ý nghĩa tích cực nhưng còn tùy thuộc độ gây nhiễu của môi trường ánh sáng đó, và khi đó muốn cảm nhận phải nhờ cậy vào kinh nghiệm riêng và sự nhậy cảm về mặt này của người quan sát. Một môi trường có công năng quen thuộc thì tín hiệu thông tin ánh sáng không cần mạnh như ở một môi trường xa lạ.
Về các đặc thù đối tượng cần thấy, đặc thù khác nhau đòi hỏi cách chiếu sáng khác nhau (bảng 2.5) và ở đây yếu tố làm nổi bật giá trị tương phản và sắc độ đậm – nhạt của các chất liệu bề mặt là vô cùng quan trọng để quyết định đến giải pháp chiếu sáng thích ứng.

Quá trình tri giác và thụ cảm thị giác phần 2 1

Bảng 2.5: đặc thù khác nhau đòi hỏi cách chiếu sáng khác nhau
           Về chất lượng của tín hiệu và cường độ chiếu sáng cần nhận thức nếu vật được chiếu sáng càng mạnh thì nhìn càng rõ, nhưng cũng có giới hạn. Khi độ sáng vượt quá 35cd/m2 thì vị trí tương đối giữa nguồn sáng và vật nhìn đóng vai trò quan trọng lớn hơn rất nhiều mức độ chiếu sáng trong sự xác định chất lượng của tín hiệu. Chẳng hạn nhìn bảng đen trong lớp nếu tãng độ sáng từ 100 đến 10.000 lux, tức 100 lần thì có thể giảm độ xa quan sát 25% để có được cùng mức độ nhìn tinh tường như nhau.
         Nhìn chung độ nhìn tinh (khả năng phân ly các chi tiết vật nhìn) thường bị giới hạn nhiều hơn, do thiếu độ tương phản hơn là do không đủ sáng. Vì vậy, sự nhạy cảm về tương phản đóng vai trò quan trọng để xác định chất lượng thụ cảm nhìn, vì độ tương phản có khả năng làm nổi bật hay thủ tiêu các đặc điểm của đối tượng nhìn.

Tương phản quá cao mang hiệu quả như sự chói lòa thường gặp trên các bề mặt nhẵn bóng treo trên tường với nguồn chiếu sáng không hợp lý.