Nghệ thuật chiếu sáng

Nguyên lý khai thác ánh sáng phần 1

1. HIỆU QUẢ HÌNH ẢNH
Mục đích của ánh sáng gồm 2 mặt:
a) Về thực dụng là hỗ trợ cho nhiệm vụ tạo hiệu ứng hình ảnh để tạo được sự thoải mái đối với mắt người, đảm bảo các điều kiện vệ sinh thị giác.
b) Về mặt nghệ thuật là tạo ra những hiệu quả về cảm xúc thẩm mỹ thị giác.
Với mục đích thực dụng cần phải định lượng được những hiệu quả của hình ảnh chất lượng cao, được thể hiện qua 3 khía cạnh sau:
1. Độ sắc nét của hình ảnh được đo thông qua nghịch đảo của góc nhìn p (tính bằng phút) từ mắt người đối với chi tiết nhỏ nhất có thể nhìn thấy. Chẳng hạn, nếu như chi tiết nhỏ nhất có thể nhận thấy chắn một góc nhìn 2′ đối với mắt người thì độ sắc nét sẽ là 1/p = 1/2 = 0,5.
2. Độ nhậy với sự tương phản (CS), đo bằng tỷ số giữa độ chênh lệch chói sáng nhỏ nhất có thể nhận biết (L2 – Lị) với độ chói sáng nhỏ nhất: cs = (L2 – Lị)/L1.100(%).
3. Hiệu quả nhìn đối với mắt người là thời gian cần để nhìn, có thể biểu thị như là số lượng ký tự nhận biết được trong một giây, hay theo bất kỳ một thang đo có khả năng so sánh nào khác.
2,XÁC ĐỊNH Sự CHIÊU SÁNG THEO ĐỊNH LƯỢNG
Mắt người phản ứng với một dải các mức độ chiếu sáng gồm trên một triệu mức, từ 0,1 lux (ánh sáng trắng hoàn toàn) đến 10000 lux (ánh sáng mặt trời rực rỡ).
Nhìn bình thường – 100 lux.
Những yêu cầu thiết kế bình thường với độ chi tiết trung bình (gia công các chi tiết gỗ, làm việc trong các văn phòng bình thường) – 400 lux.
Làm việc trong điều kiện căng thẳng, công việc kéo dài (trong các dây chuyền lắp ráp, dệt vải) – 900ỈUX.
Những công việc hết sức căng thẳng (chế tạo, sửa chữa đồng hồ) – 2000 đến 3000ỈUX.
Quyết định chọn độ chiếu sáng sẽ tùy thuộc rất nhiều vào các nhân tố kinh tế, văn hóa và xã hội của đất nước. Nói một cách khác, phụ thuộc vào khả năng đầu tư thanh toán. Dưới đây là một số số liệu so sánh giữa các nước có thể tham khảo.

3.VỀ TIỆN NGHI NHÌN
Các cấp độ sáng
Mắt có thể nhận biết độ sáng trên một dải từ hơn một tỷ tỷ (1012) đến 1. Tuy nhiên, trong một khoảng thời gian nhất định, sự nhận biết ánh sáng chỉ ở trong khoảng từ 1000 đến 1. Ánh sáng rỗ ràng mang tính tương đối và chủ quan. Lấy ví dụ, dưới một sự chiếu sáng đồng nhất, một tờ giấy mầu xám khi được chiếu trên nền đen thì sáng hơn khi được chiếu trên nền trắng. Tuy nhiên, độ sáng đã được phân định (được gọi là độ chói) trên những phần nền phản chiếu (footlamberts) có thể như nhau. Trong hệ mét, độ chói được đo bằng nít hay candela/mét vuông (cd/m2). 1 nít bằng 0,29fL.
Sự khác biệt cửa độ sáng
Sự nhận biết của thị giác được nâng cao bởi sự tương phản và các yếu tố khác. Sự tương phản là sự khác nhau về độ sáng giữa một vật thể được xem xét với môi trường xung quanh nó. Tuy nhiên, để có sự tương phản dễ chịu, trong hầu hết các trường hợp, sự khác biệt về độ sáng (hay tỷ lệ của độ chói) nên ở trong khoảng các giới hạn sau đây. (Các giới hạn về độ chói, dù sao, không ngụ ý rằng sự đồng nhất hay các điều kiện chiếu sáng không đổi là được ưa thích hơn hay thậm chí đáng được ao ước).
2:1 Sự khác biệt về độ sáng có thể nhận biết rõ ràng
3:1 Giữa tiêu vật và phần tối hơn xung quanh.
10:1 Giữa tiêu vật và bề mặt tối hơn ở xa; sự khác biệt về độ sáng có thể nhận biết rõ ràng khi tập trung và chuyển tiếp giữa các vùng gần kề.
20:1 Giữa các luồng sáng cố định (hay các cửa sổ) với các vùng liền kề có diện tích khá lớn.
40:1 Không nên vượt quá tầm nhìn thông thường (các ngoại lệ bao gồm các ơèn chùm phalê).
50:1 Những điểm sáng nổi bật nhất sẽ ngăn trở tầm nhìn tới các vùng khác.
Để đạt được sự khác biệt về độ sáng một cách hoàn hảo, các nguồn sáng và các hệ sô’ phản xạ ánh sáng của bề mặt căn phòng phải được lựa chọn kỹ càng.