Nghệ thuật chiếu sáng

Motoko Ishii và quan điểm khai thác hiệu quả ánh sáng phần 2

       Về gian Điện năng, tôi dùng nhiều nguồn sáng đặt rải rác ở khắp tòa nhà để thảo ra một “chương trình ánh sáng”, sử dụng đến hiệu quả nhấp nháy và sự biến thiên cường độ của mỗi nguồn sáng. Trong gian Nghệ thuật, tôi tìm cách tạo nên hiệu quả làn sóng ánh sáng bằng cách đặt một loạt bóng đèn tại các điểm tựa của khung kính gian phòng, chia thành những mạch điện đan nhau theo chiều thẳng đứng. Nhờ vậy những biên thiên về cường độ ánh sáng khiến cho không gian trông phập phồng như “thở”. Tại Khu vườn Nhật Bản, tôi lại dùng đến nguồn ánh sáng dìu dịu, êm ả. Tóm lại, tại các gian trưng bày đó, tôi đã ra sức tìm tòi để tạo nên những hình thức chiếu sáng kiến trúc thể nghiệm mới. Ngoài ra, tại Hội chợ Expo’70, tôi còn thử nghiệm nhiều kiểu chiếu sáng khác nữa, đều được hoan nghênh rộng rãi.
        Kể từ sau Hội chợ Osaka, tại Nhật Bản, ngày càng nhiều người đòi hỏi ánh sáng phải là một nguồn đem lại niềm vui và cái đẹp, chứ không chỉ bó hẹp ở chức năng chiếu sáng. Chính với tinh thần đó mà tôi đã cùng với các kiến trúc sư Nhật Bản nổi tiếng như Kenzo Tang, Yoshinoby Ashivara, Kiyonory Kikutate tham gia việc thiết kế nhiều công trình bao gồm các khách sạn, nhà hát, sứ quán và các công trình thương mại.
Nền kinh tế Nhật Bản được thịnh vượng một thời gian sau Hội chợ Expo’70, đến thời kỳ giữa những năm 1970 thì bị mắc vào cuộc khủng hoảng dầu lửa. Ngành thiết kế ánh sáng đã phải chịu ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ của các cuộc khủng hoảng này. Các đèn chùm lớn không được bật lên, những chùm đèn gắn vào tường cũng chỉ được bật một ít bóng để có một ánh sáng tối thiểu. Những biểu hiện bằng đèn neon rực rỡ ở khu Ginza cũng tắt ngủm. Đối với những người làm công tác ánh sáng chúng tôi, đó là một thời kỳ buồn tẻ, đau lòng.
       Nhưng đến nửa cuối những năm 1970, Nhật Bản dã được phục hồi khỏi cơn choáng của cuộc khủng hoảng dầu lửa. ánh đèn lại sáng lên rực rỡ tại các công sở và cửa hiệu. Tuy nhiên, người ta vẫn phải chú ý hết sức đến việc tiết kiệm năng lượng. Đèn dây tóc tiêu thụ nhiều điện đã bị thay thế bằng loại đèn phóng cường độ ánh sáng cao bắt đầu được sử dụng rộng rãi. Nhưng được dùng nhiều nhất là đèn huỳnh quang (đèn catốt lạnh và đèn neon).
Đến đầu những năm 1980, nói chung mọi người ưa thích những cách chiếu sáng hài hòa cân đối hơn. Có thể nhận ra một chiều hướng khác nữa là ngày càng có nhiều dinh thự, nhất là những công trình kiến trúc tôn giáo, yêu cầu một hình thức chiếu sáng đặc biệt.
Khu vườn thiêng Shiga của Shinji Shumei – kai, một tổ chức tôn giáo theo nghi thức Thần dạo, được hoàn thành năm 1983, ở giữa là điện thờ người sáng lập giáo phái này. Không gian bên trong tòa nhà cao 40m, các nguồn sáng được đặt ở những chỗ khuất, không nhìn thấy và phát ra ánh sáng dìu dịu, càng làm tăng thêm bầu không khí lặng lẽ trang nghiêm.     

       Ánh sáng ở đây đóng /ai trò tương tự như một bầu không khí có nhiệt độ và độ ẩm thích hợp.
Tối hôm tổ chức lễ hoàn thành điện thờ, tôi đã cho chiếu xuống quảng trường trước điện thờ những chùm sáng laze. Là một trong những phát minh lớn nhất của thế kỷ này, laze là một chùm tia sáng cực mạnh, được “chụm” lại một cách nhân tạo, tức là tạo thành một tia sáng rất hẹp theo một hướng duy nhất. Dùng các tia laze làm những yếu tố tạo nên một “bố cục tự do”, đêm ấy chúng tôi đã đem lại cho ánh sáng một hình thức thê hiện mới, làm cho nó tồn tại một cách độc lập, không phải dựa vào không gian kiến trúc.
Nhiệm vụ của tôi hiện nay là làm một cách nào tạo ra những môi trường ánh sáng mới trong mọi loại không gian kiến trúc bằng cách sử dụng đến các nguồn sáng khác nhau và các loại điều chỉnh ánh sáng. Đồng thời, tôi hy vọng sẽ làm sống lại tính nhạy cảm với ánh sáng cổ truyền của Nhật Bản thời xưa, lòng yêu thích vẻ đẹp của ánh trăng.

         Tóm lại, mỗi một kiến trúc sư đều có những quan điểm riêng và giải pháp xử lý của mình về nghệ thuật sử dụng ánh sáng trong kiến trúc, nhưng ở họ cũng có những nét tương đồng, đó là:
– Chiếu sáng phải tạo được sự hài hòa giữa công trình kiến trúc với môi trường thiên nhiên xung quanh, giữa công năng kỹ thuật và nghệ thuật.
– Trong một công trình kiến trúc thì giải pháp chiếu sáng nhân tạo và tự nhiên đồng tồn tại bổ sung cho nhau, vừa có thụ động lại chủ động, có biến hóa hiệu quả tốt trong từng thời khác và đặc biệt chiếu sáng nhân tạo phải tạo cho công trình những biểu cảm không giống như nó sẵn có trong môi trường chiếu sáng tự nhiên. Nói chung chiếu sáng phải vừa độc đáo, vừa ấn tượng lại làm nổi bật các giá trị tạo hình đầy sáng
– Hiệu quả nghệ thuật của ánh sáng đạt giá trị cao khi ánh sáng góp phần tạo nên và giúp cho mọi người cam nhận được sự phong phú của không gian – hình khối và nhất là ý tưởng chung của tác phẩm, sự thống nhất giữa nội dung và hình thức.
– Chiếu sáng có định hướng rõ ràng đặc biệt khi được sử dụng cho chiếu sáng nhân tạo nội thất nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của cảm xúc thị giác.
– Chiếu sáng nhằm thẻ hiện bản sắc riêng của từng dân tộc.
– Hiệu quả thẩm mỹ kiến trúc liên quan nhiều đến các khía cạnh cảm thụ, mang tính chất tâm sinh học nhiều hơn, nghĩa là các giá trị cảm xúc định tính, mà hiệu quả có được thường tùy thuộc rất nhiều vào bản lĩnh sáng tạo, sự nhạy cảm và kinh nghiệm của nhà thiết kế, cần sự hỗ trợ đắc lực của phần mềm máy vi tính và các mô hình thực nghiệm mới có thể đạt được sự mong muốn