Nghệ thuật chiếu sáng

Lịch sử của việc sử dụng nguồn sáng thiên nhiên trong kiến trúc

Cách đây hàng vạn năm, vào thời kỳ đồ đá, con người đã có những hình thức cư trú nguyên thủy thô sơ như các hang động tự nhiên, các hang động có gia công thêm, rồi đến các công trình xây dựng bằng đá hoặc đan kết bằng cành cây, lá cây. Với trình độ khoa học kỹ thuật non kém thời đó, để chiếu sáng bên trong và ngoại thất các công trình của mình con người chỉ có một nguồn sáng duy nhất đó là nguồn sáng thiên nhiên. Nguồn sáng thiên nhiên bao gồm ngọn lửa tự cháy do sét tạo ra và ánh sáng mặt trời, mặt trăng, dần dần con người đã chủ động tạo ra được ngọn lửa để bước vào kỷ nguyên đồ đồng.

Ở thời kỳ đồ đá mới (10.000 đến 3000 năm Tr.CN), con người đã triết luận đầy siêu hình và bí hiểm cho sự tương phản giữa ánh sáng và bóng tối. Họ nhận thấy sự biểu cảm thành công và rõ ràng của một bức tường rực sáng so với bức tường mờ tối. Trong các công trình đầu tiên của mình, con người thường chiếu sáng không gian nội thất thông qua một lỗ cửa nhỏ được khoét trên trần nhà (vốn làm cửa ra vào) theo mô hình của một cái hang mà trước đó họ lợi dụng dùng làm nhà ở. Ánh sáng xuyên qua lỗ quy tụ lại thành chùm đã tạo ra những không gian có độ sáng khác biệt và mỗi một không gian này thường được người ta gán cho nó một công năng riêng. Những không gian sáng sủa hay bức tường được chiếu sáng mạnh mẽ là nơi dành cho thờ cúng hay nơi đặt các mảng phù điêu trang trí quyến rũ. Do mỗi không gian đã hàm chứa một chức năng thiêng liêng riêng nên nó đã tạo hiệu quả tâm lý thân quen chống lại tâm lý e sợ, xa lánh bóng tối. Với kỹ thuật và kinh nghiệm này con người còn tiếp tục khai thác sử dụng nhiều cho các công trình tưởng niệm hay tôn giáo trong các nền vãn hóa nhân loại tiếp sau.

Với các Kim tự tháp từ thời Văn minh Ai Cập cổ đại (từ những năm 3000 Tr.CN và kéo dài mấy nghìn năm) đã chứng minh cho chúng ta thấy các nhà xây dựng và kiến trúc sư thời đó có trình độ hiểu biết chuyên môn khá cao có thể làm chủ được các loại vật liệu xây dựng, trong đó có cả thứ “vật liệu ánh sáng” nhưng ở mức độ thấp. Họ phân biệt các yếu tố bên trong, bên ngoài của công trình và họ cho rằng chúng luôn luôn liên quan tới nhau, chúng có thể hài hòa hay hoàn toàn đối lập nhau. Bên ngoài những Kim tự tháp với tỉ lệ lớn của mình, sẽ gom giữ ánh sáng và phản chiếu, tỏa sáng trên một bề mặt rộng lớn giống như là những ngọn đèn pha bất tử, biểu hiện sự hiện diện năng động của con người trên bề mặt của Trái Đất. Trái lại hành lang bên trong nhà mồ bị bao quanh bởi những bức tường dày bằng đá nên nó hoàn toàn chìm đắm trong bóng tối và hòa nhập vào lòng đất. Sự tương phản này không chỉ xảy ra giữa yếu tố nội thất và ngoại thất, mà còn được sử dụng trên mặt đứng các công trình Lãng vua Djoser ở Saqqurah (Kim tự tháp giật cấp) và ngôi đền của hoàng hậu Hatschepsut ớ Deirel Bahari. Đó là sự tương phản giữa các phần sáng (bể mặt) và các phần tối – bóng đổ (các mảng chạm nổi, lỗ cửa sổ, cửa ra vào hay bóng đổ được tạo ra do sự giật cấp trên mật đứng).

Bằng cách trên, các kiến trúc sư Ai Cập đã làm nổi bật đặc điểm nhịp điệu của những bức tường với hiệu quả đặc rỗng, sáng tối rõ ràng. Ngược lại, ở các đền thờ Ai Cập, các hàng cột bao quanh nhà ở bên ngoài có bóng đổ phản chiếu lên tường tạo thành vùng chuyển tiếp hài hòa nhiều sắc độ biến hóa giữa bên trong với bên ngoài.

Thời La Mã cổ người ta quan niệm con người có quyền tự do hưởng thụ ánh sáng vì ánh sáng được coi là một thứ quà thiêng liêng hào phóng do thượng đế ban tặng từ cõi trời tượng trưng cho điềm lành, sự sống. Do đó ánh sáng cần được lấy vào không gian nội thất từ các lỗ cửa vòm bố trí ở phía trên cao như từ cõi trời xuống (hình 1.1).

Thời kỳ này, nhà ở luôn được tập hợp xây dựng bao quanh một cái sân tràn ngập ánh sáng và ánh sáng lại lấy từ ngoài sân vào trong phòng thông qua các cửa sổ quay ra sân nắng đó.

Thời Hy Lạp cổ, người ta lại thích một không gian ít ánh sáng. Ở các lãng mộ, trong các tháp nhọn thường rất tối, còn ở những không gian dành cho thờ cúng thì được chiếu sáng bời thứ ánh sáng yếu ớt lọt qua các khe nhỏ ở trên trần hay bởi thứ ánh sáng gián tiếp được phản chiếu từ tường ngoài.

Sang thời phong kiến ở các quốc gia Tây Âu (khoảng thế kỷ XII đến thê kỷ XV), xuất hiện trào lưu kiến trúc Gothique. Loại hình kiến trúc đáng chú ý nhất trong giai doạn này là Nhà thờ. Nhà thờ Gothique có không gian lớn, với những đường nét vươn lên thanh thoát và nội thất tràn ngập ánh sáng.

Tiếp theo trào lưu kiến trúc Gothique là kiến trúc Văn nghệ Phục hưng vào khoảng thế kỷ XV, XVI. Loại hình kiến trúc đặc trưng cho thời kỳ này cũng vẫn là các công trình nhà thờ. Nhà thờ Phục hưng thường tràn ngập ánh sáng tự nhiên và được nghiên cứu chiếu sáng nội thất nghiêm túc. Tất cả các bộ phận kiến trúc đều được chiếu sáng với cùng một cường độ và người ta muốn có được một không gian tổng thể hài hòa, chứ không thích có chi tiết nào nổi trội cá biệt.

Trào lưu kiến trúc Baroque ớ thế kỷ XVIII lại được bắt nguồn và phát triển từ kiến trúc Phục hưng. Dòng nghệ thuật kiến trúc Baroque đã là một hiện tượng độc đáo phức tạp. Nó chú trọng tạo ra những cảm giác sắc mạnh, những biến đổi mãnh liệt, và tìm tòi những hiệu quả thẩm mỹ kịch tính, bất ngờ, nghiên cứu những quan hệ không gian biến hóa, phức hợp, cường điệu sự tương phản mạnh mẽ của bóng đổ và ánh sáng. Trong các nhà thờ Baroque thì ánh sáng về thực chất đã gắn liền với khái niệm một thủ pháp, một thành tố của nghệ thuật tạo hình kiến trúc, của hiệu quả mỹ cảm, của không gian ánh sáng kiến trúc .

 

Hình 1: Sử dụng nguồn sáng từ thiên nhiên

Việc sử dụng ánh sáng thiên nhiên trong kiến trúc, rõ ràng không chỉ dừng lại ở các công trình xây dựng trong quá khứ hay hiện tại, mà nó sẽ còn được tiếp tục khai thác ứng dụng trong tương lai. Bởi vì ánh sáng thiên nhiên vẫn là thứ ánh sáng có đặc điểm vật lý rất phù hợp với sức khỏe con người nói chung hay thị giác nói riêng, thêm vào đó ánh sáng thiên nhiên luôn sẵn có ở bất kỳ vị trí địa lý nào trên trái đất, và đặc biệt là rẻ tiền, thậm chí khi sử dụng nó con người không phải trả tiền.