Nghệ thuật chiếu sáng

Chiếu sáng nhân tạo trong nhà phần 2

          Nhờ tính có hướng, ánh sáng sẽ tạo ra các nhịp điệu sáng tối trên mọi vật. Đó cũng là cách tự nhiên dạy chúng ta cảm nhận hình khối, rồi chúng ta lưu giữ nó trong trí nhớ của mình một cách tự nhiên. Độ chói đồng đều làm ta liên tưởng tới mặt phẳng, không đều – liên tưởng tới mặt cong. Nếu trên mặt phẳng có những dải sáng tối xen kẽ, sẽ tạo ra ảo giác một mặt gợn sóng. Chỗ trần tiếp giáp với tường, nếu ánh sáng tối hơn vùng giữa, ta có ảo giác trần bị nghiêng tại chỗ tiếp giáp này. Như vậy, cảm giác phẳng chỉ xuất hiện khi độ chói đồng đều trên trần.
       Ngược lại, độ chói đều trên vỏ (hoặc vòm) làm mất đi sức biểu hiện gợi cảm của chúng và độ sâu của không gian. Muốn tạo được sự liên tưởng chúng với bầu trời, cần thiết kế sao cho độ chói của nó tăng dần từ chân tới đỉnh. Vì vậy nếu cấu tạo gờ tường chiếu sáng ở chân vỏ (vòm), khi đó vùng trần cạnh gờ tường sẽ có độ chói cao nhất, và nó sẽ nhấn chìm vùng trung tâm vỏ (hay vòm).
Độ tương phản ánh sáng không chỉ là một yếu tố cần thiết để phân biệt chi tiết mà còn thuộc phạm trù thẩm mỹ. Độ tương phản này ở các địa phương khác nhau không giống nhau. Người dân ở các nước phương Bắc quen với độ tương phản sáng tối thấp, khoảng 0,3 – 0,4, trong khi người phương Nam lại quen với độ tương phản cao, khoảng 0,7 – 0,8. Chính vì vậy ta thấy người phương Bắc thường dùng áo quần có mầu nhạt,
trong khi người phương Nam ưa dùng mầu đậm, có độ tương phản cao (như trắng, đỏ, đen). Trong nội thất nên sử dụng ánh sáng sao cho tạo được tỷ lệ sáng tối tương tự như tỷ lệ quen thuộc trong tự nhiên của địa phương mình.
Theo hướng thứ hai đi tìm giải pháp cho chiếu sáng nội thất, người ta lại làm trái với quv luật của tự nhiên: trần tạo tối, sàn sáng, phá vỡ nhịp điệu bình thường của kiến trúc ánh sáng. Khi đó sẽ tạo nên một cảm giác khác thường và gọi là “hiệu quả sân khấu” hay “kịch tính”. Nguyên tắc này thường áp dụng cho chiếu sáng ngoài trời công trình kiến trúc đế tạo ấn tượng khác lạ huyền ảo tạo sốc cho thụ cảm thẩm mỹ.
Giải pháp “hiệu quả sân khấu” thích hợp cho các phòng thi đấu thể thao: độ rọi cao nhất ở sàn đấu, nhỏ nhất ở khán đài. Sự phân bố không đều độ chói cũng cần cho cả các phòng triển lãm, nhà bảo tàng, nhà hát. Khi đó phải bảo đảm độ rõ tốt nhất ở khu vực trưng bày, ở sân khấu, còn ở vùng người xem độ rọi phải nhỏ để đạt được sự thích ứng của thị giác.
Cần nói thêm rằng, khi chiếu sáng để nhìn rõ được các chi tiết điêu khắc, nhìn kỹ được các đường vân của bề mặt vật liệu, lại có ảnh hưởng xấu đến sự cảm nhận độ sâu không gian. Khi đó ta có ảo giác rằng bề mật ở gần mình và ngược lại. Vì vậy khi muốn nhấn mạnh chất liệu, chi tiết trang trí, nên dùng ánh sáng trượt trên bề mặt vật liệu đó.
Cuối cùng, vấn đề cách đặt đèn chiếu sáng cũng rất quan trọng, bởi vì chính chúng cũng là các chi tiết của kiến trúc nội thất. Nguồn sáng phải hòa nhập vào kiến trúc nội thất tạo sự hoàn thiện và nhất quán.
1. Thiết kế sơ bộ chiếu sáng trong nhà
        Kỹ thuật chiếu sáng là tập hợp các phương pháp cho phép đảm bảo về số lượng và chất lượng phân bố ánh sáng thích ứng với yêu cầu sử dụng.
Các chương của phần này chỉ dành cho các thiết bị chiếu sáng nhân tạo trong không gian kín.
Một cách tổng quát thiết bị chiếu sáng này được tính toán theo hai giai đoạn:
– Thiết kế sơ bộ xác định giải pháp về hình học và quang học có thể có.
– Kiểm tra các độ rọi khác nhau được thực hiện một cách chính xác bằng cách sử dụng một trong các quy chuẩn kể trên với mục đích chính là kiểm tra mức độ tiện nghi của thiết bị.
Trước rất nhiều giải pháp có thế tiến hành lựa chọn theo thứ tự sau đây:
2. Chọn độ rọi (còn gọi là độ sáng)
Chọn độ rọi ngang chung trên bề mặt làm việc, còn gọi là “bề mặt hữu ích” có độ cao trung bình là 0,85m so với mặt sàn.
Độ rọi này phụ thuộc vào bản chất của địa điểm, vào các tính nâng thị giác liên quan đến tính chất công việc (vẽ, dệt, cơ khí…) đến việc mỏi mắt và liên quan đến môi trường chiếu sáng, đến thời gian sử dụng hàng ngày, v.v…
Hội chiếu sáng Pháp đã công bố các độ rọi trung bình đòi hỏi với mỗi địa điểm, tính đến tất cả các thông số kể trên.
Đế làm thí dụ, đối với các địa điểm thường gặp ta chấp nhận các độ rọi sau đây:
– Giao thông, cửa hàng, kho tàng: 100 lux
– Phòng ăn, cơ khí nói chung: 200 và 300 lux
– Phòng học, phòng thí nghiệm: 300 đến 500 lux
– Phòng vẽ, siêu thị: 750 lux
Công nghiệp mầu: 1000 lux
Công việc với các chi tiết rất nhỏ: > 1000 lux.
3.Chon loai đèn
Việc lựa chọn đèn thích hợp nhất trong số các loại đèn chính (đèn sợi đốt, đèn huỳnh quang, đèn ánh sáng hỗn họp) theo các tiêu chuẩn sau đây:
– Nhiệt độ mầu được cho theo biểu đồ Kruithof và có liên quan với việc lựa chọn trên.
– Chỉ số mầu.
– Việc sử dụng tăng cường hay gián đoạn của địa điểm.
– Tuổi thọ của các đèn
– Hiệu quả ánh sáng của các đèn.
Do đó cần phải tiến hành bằng các loại trừ liên tiếp, tạm thòfi bỏ qua công suất của nguồn.