Nghệ thuật chiếu sáng

Các yêu cầu chiếu sáng tự nhiên về mặt kỹ thuật

1. Phân bố không gian ánh sáng và hướng ánh sáng
Trong một số công, trình người ta còn quy định không gian ánh sáng cần phải đảm bảo sự đồng đều hay một cách phân bố nào đó, để không những đạt được những yêu cầu thích dụng công năng mà còn vì hiệu quả nghệ thuật trang trí thẩm mỹ, đặc biệt là sự phân bố ánh sáng theo một chiều hướng nhất định, ví dụ như ở trường hợp ánh sáng lớp học phải đi từ trên xuống dưới, từ trái sang phải…
2 Tỷ lệ độ chói nội thất
Độ chói của các bề mặt trong phòng như tường, trần, sàn, các thiết bị, bảng đen… có ảnh hưởng đến tiện nghi môi trường ánh sáng cũng như đến tâm sinh lý con người. Nếu tỷ lệ giữa chúng không hợp lý, quá lớn sẽ gây cảm giác chói chang, căng thẳng, mệt mỏi đối với mắt. Ngược lại nếu quá thấp sẽ tạo cảm giác u ám nặng nề hoặc buồn chán.
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy độ chói trong thiên nhiên là phù hợp nhất với mắt người và các nhà thiết kế nên bắt chước để tạo lại trong môi trường ánh sáng nhân tạo của phòng.
Ở các nước xứ lạnh khi trời đầy mây thì độ chói thiên đỉnh (trên đỉnh đầu) là cao nhất, ở phía chân trời là trung bình, còn ở mặt đất độ chói là nhỏ nhất. Quan hệ độ chói này là: thiên đỉnh : chân trời: mặt đất = 5:3:1.
Trong mùa đông khi mặt đất phủ tuyết trắng, độ chói mặt đất tăng lên làm cho ta có cảm giác chói chang mất tiện nghi, dù đó chỉ là ánh sáng phản xạ. Ở các nước vùng
Trung Á thuộc khí hậu khô nóng, không khí thường trong suốt nên tỷ lệ độ chói thường
là 10: 3 : 1.
Với khí hậu Việt Nam bầu trời nhiều mây với độ trong suốt khí quyển thấp, bầu trời lại sáng trong khi phía chân trời có cây xanh có mặt đất nhiều ruộng lúa, quan hệ này là 10 : 7 : 3 (tham khảo phần I). Do vậy nên tạo mầu sắc nội thất để đảm bảo được mối quan hệ độ chói như ở ngoài trời, chẳng hạn trần phòng mầu sáng (trắng), tường sẫm mầu hơn, sàn mầu tối kết hợp với dùng rèm, các kết cấu che nắng và cây xanh trang trí bên cạnh cửa sổ sẽ tạo được bầu không khí ánh sáng thích hợp với Việt Nam.
Dưới đây giói thiệu các hệ số phản xạ của một số bề mặt nội thất nên khai thác (bảng 2.8).

 

3. Loại trừ chói lóa mắt tiện nghi
Để loại trừ cần sử dụng các biệt pháp sau:
– Tránh ánh nắng trực tiếp chiếu vào chỗ làm việc, vì có khả năng gây phản xạ từ các mặt bàn thiết bị bóng láng.
– Tránh quay cửa lấy ánh sáng các bàn làm việc hướng về các bầu trời quá sáng, hay vào các hướng bất lợi (Đông, Tây).
– Các thiết bị che nắng không nên bằng các vật liệu bóng láng hoặc sơn vôi bằng những mầu quá sáng có độ phản xạ cao.
4., Trong tổ chức chiếu sáng hợp lý đạt được sự thích ứng tốt của mắt
Trong nhiều trường hợp sự tiện nghi môi trường ánh sáng lại gắn liền với sự phân bố không đều đặt độ rọi bên trong phòng nhằm cố tình hướng khán giả vào các mục tiêu
quan trọng hoặc xóa bớt những chi tiết của bối cảnh không tốt. Ví dụ trong các nhà bảo tàng phòng triển lãm, trong các công trình thi đấu biểu diễn ta thấy vùng dành riêng cho khán giả có độ chiếu sáng thấp hơn vùng dành cho các vật trưng bày, cho các sân bãi thi đấu, cho các sàn diễn sân khấu. Nhà thiết kế phải tìm được một hiệu quả tối – sáng thích ứng, thông thường phải có sự hỗ trợ của chiếu sáng nhân tạo.
ĐẶC ĐIỂM CHIẾU SÁNG MỘT số CÔNG TRÌNH CÔNG CỘNG
Khi xét tính chất và yêu cầu chiếu sáng của các công trình công cộng cần căn cứ đến yêu cầu công năng sử dụng. Ở đây cần phân biệt 2 loại:
a) Loại sử dụng thường xuyên suốt ngày đêm (24/24): bệnh viện…
b) Loại sử dụng gián đoạn: trường học, viện bảo tàng, các công trình văn hóa…
Chiếu sáng các công trình này thường phải kết hợp chiếu sáng tự nhiên và nhân tạo. ánh sáng tự nhiên có tính năng sinh lý rất cao thường cho con người cảm nhận rất thật về mầu sắc của kiến trúc. Chức năng chiếu sáng tự nhiên cũng phải kết hợp với yêu cầu thông thoáng tạo môi trường nội thất thích nghi với tính chất hoạt động của phòng và sự kết hợp 2 yếu tố này sẽ tạo ra những giải pháp kiến trúc có chất lượng về mặt công nãng cũng như thẩm mỹ.
Những kinh nghiệm sáng tạo kiến trúc thế giới đã cho thấy rõ các hiệu quả chất lượng này, đặc biệt là sự kết hợp hài hòa giữa khối kiến trúc và môi trường cảnh quan (tham khảo phần I, đã được giới thiệu tóm tắt nội dung ở phụ lục 2).